Tôi nhận được lá thư ghi ngày gửi là năm 1985 nhưng người nhận lại là tôi

Nguyễn Trinh

Tôi ngồi bệt xuống ghế, ôm tờ giấy vào ngực. Nước mắt cứ thế chảy.

Sáng hôm ấy, người đưa thư trao cho tôi một phong bì đã ố vàng, góc giấy sờn rách. Tôi định trả lại vì nghĩ nhầm địa chỉ. Nhưng khi nhìn dòng người nhận, tôi khựng lại. Tên tôi được viết rõ ràng bằng nét chữ nghiêng cũ. Còn dòng ngày gửi ở góc trên ghi: 12 tháng 3 năm 1985.

Năm 1985 – lúc ấy tôi chưa ra đời.

Tay tôi run khi mở phong bì. Bên trong là một tờ giấy mỏng, mực đã nhòe nhẹ ở vài chỗ. Người viết là một người phụ nữ. Cô ấy viết cho “đứa con gái chưa chào đời” của mình. Cô ấy biết mình không thể giữ được đứa trẻ vì hoàn cảnh lúc ấy quá khó khăn. Cô ấy quyết định gửi con vào trại mồ côi, nhưng trước khi buông tay, cô ấy viết lá thư này, nhờ một người bạn giữ và gửi đi… vào đúng ngày đứa trẻ tròn bốn mươi tuổi.

“Mẹ không biết con sẽ mang tên gì,” dòng chữ viết. “Mẹ chỉ biết con sẽ lớn lên, và một ngày nào đó con sẽ đọc được những dòng này. Mẹ chưa bao giờ muốn bỏ con. Mẹ chỉ không đủ sức giữ. Nếu con đang đọc lá thư này, nghĩa là con đã sống khỏe. Mẹ cảm ơn con vì điều đó.”

Tôi ngồi bệt xuống ghế, ôm tờ giấy vào ngực. Nước mắt cứ thế chảy. Tôi được nhận nuôi từ nhỏ. Cha mẹ nuôi chưa bao giờ giấu tôi về nguồn gốc, nhưng họ cũng không biết gì nhiều về người mẹ đẻ. Và giờ đây, đúng năm tôi bốn mươi tuổi, lá thư từ năm 1985 đã tìm đến đúng tay tôi – người nhận được ghi từ trước khi tôi có tên.

Tôi đọc đi đọc lại. Mỗi dòng chữ như một nhịp thở của người phụ nữ năm xưa. Cô ấy sợ hãi, tuyệt vọng, nhưng vẫn cố viết thật rõ để bốn mươi năm sau con mình hiểu. Cô ấy không xin tha thứ. Cô ấy chỉ muốn con mình biết rằng mình từng được yêu, dù người mẹ ấy buộc phải buông tay.

Đêm ấy tôi không ngủ. Tôi đặt lá thư lên bàn, nhìn mãi dưới ánh đèn. Tôi tưởng tượng người phụ nữ ấy năm 1985 – còn rất trẻ, vừa sinh con, đang khóc trong căn phòng nhỏ, viết từng chữ run run rồi trao cho người bạn với lời dặn: “Hãy gửi vào đúng ngày này, bốn mươi năm sau.” Và người bạn ấy đã giữ lời. Dù qua bao nhiêu thay đổi, lá thư vẫn đến đúng tay tôi.

Sáng hôm sau tôi mang lá thư đến gặp cha mẹ nuôi. Họ đọc xong cũng khóc. Chúng tôi ngồi im với nhau rất lâu. Không ai nói gì về việc tìm người mẹ đẻ. Tôi cảm thấy không cần thiết. Vì lá thư ấy đã đủ. Nó đã nói thay mọi thứ mà tôi từng thắc mắc trong lòng.

Tôi ép plastic lá thư và giữ như một kỷ vật. Mỗi năm đến ngày 12 tháng 3, tôi lại lấy ra đọc. Không phải để đau khổ. Mà để nhớ rằng mình từng được một người phụ nữ yêu thương đến mức gửi gắm hy vọng qua bốn thập kỷ – chỉ để một ngày nào đó, đứa con cô ấy buộc phải buông tay được biết: mình chưa bao giờ bị bỏ rơi trong trái tim mẹ.